CHIA SẺ SAU CHUYẾN ĐI TÂY BẮC CỦA MỘT SINH VIÊN CEO TOURIST - K2 ( PHẦN 2)

Sinh viên ngành quản trị du lịch và lữ hành của trường  Huấn luyện Doanh nhân CEO Việt Nam  đã kết thúc khóa huấn luyện đào tạo. Mặc dù cả lớp hiện tại không còn được cùng nhau tham quan, trải nghiệm nữa, nhưng những kỉ niệm về mỗi chuyến đi vẫn luôn còn mãi trong kí ức của mỗi người. Dưới đây sẽ là hồi ức của một cô gái CEO TOURIST - K2 nhỏ bé, kể lại chuyến hành trình về miền Tây Bắc của mình.

Ngày 27/11/2019

Buổi sáng ở Điện Biên Phủ dập dờn hơi sương, nay chúng tôi đến ghé thăm nghĩa trang A1 hay còn gọi là nghĩa trang Thành phố Điện Biên Phủ được khởi công xây dựng năm 1958, sau đó năm 1994 được trùng tu nâng cấp. Đây là nghĩa trang nhỏ nhất trong số ba nghĩa trang liệt sĩ ở Điên Biên Phủ, quy tập được 644 cán bộ chiến sĩ( Nghĩa trang Độc Lập quy tập 2432 liệt sĩ, nghĩa trang Him Lam quy tập 896 liệt sĩ). Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, dự tính số chiến sĩ hi sinh là hơn 10 000 chiến sĩ, tuy nhiên hiện tai chúng ta mới chỉ quy tập được khoảng 1/3 Số hài cột. Số còn lại các anh vẫn đang nằm lại mảnh đất Mường Thanh này, máu thị của các anh thấm vào những gốc cây ngọn cỏ. Đoàn sinh viên chúng tôi vào dâng hương, tưởng nhớ đến công lao to lớn mà những anh hùng dân tộc đã hy sinh thân mình để bảo vệ độc lập chủ quyền đất nước. Trong số 644 các cán bộ hiến sĩ ở nghĩa trang này chỉ có 4 ngôi mộ là có tên đó là những anh hùng đã vang danh là anh Trần Can, anh Tô Vĩnh Diện, anh Bế Văn Đàn và anh Phan Đình Giót, số còn lại đều là mộ vô danh.

Theo lời kể của chị Hướng dẫn viện tại đây, nếu trước năm 2009, thì những ngôi mộ này được gọi là những ngôi mộ liệt sĩ vô danh những sau đó Bộ Thương Binh và Xã hội đã quyết định đổi thành liệt sĩ chưa xác định được danh tính, tên tuổi, quê quán của các anh được để ngỏ. Chị Hướng dẫn đã đọc cho chúng tôi nghe một đoạn thơ của nhà thơ Nguyễn Giang San đầy xúc động:

“Xin đừng gọi anh là liệt sĩ vô danh

Anh từng có tên như bao khuôn mặt khác

Mẹ sinh anh tròn ngày chẵn tháng

Cha đặt tên anh chọn tuổi, chọn mùa

Anh nhận ra lưỡi cày, lưỡi hái

Vẹt mòn trong nắng trong mưa!...

…Xin đừng gọi anh là liệt sĩ vô danh

Anh từng có tên như bao khuôn mặt khác

Chiến trường gần, chiến trường xa đuổi giặc

Tên làng, tên đất theo anh.

Bình yên sau cuộc chiến tranh

Anh trở về không tên, không tuổi

Trắng hàng bia những ngôi sao không nói

Rưng rưng cỏ mọc dưới chân.”

Đó là nỗi trăn trở của nhiều thế hệ, đặc biệt là vị đại tướng đáng kính của chúng ta. Mỗi lần Đại tướng Võ Nguyên Giáp về thăm Điện Biên Người thường đứng lặng trước những ngôi mộ trắng bia, đôi mắt Người lại đỏ hoe vì thương đồng đội, chiến sĩ còn nằm lại dưới lòng đất Mẹ khi tuổi đời còn rất trẻ.

Sau khi dâng hướng, đoàn chúng tôi di chuyển sang Khu di tích lịch sử đồi A1. Di tích A1 trước đây chỉ là kí hiệu trên bản đồ quân sự của chúng ta, còn với quân Pháp thì đồi A1 có tên là Eliane 2 nằm trong cụm Eliane để bảo vệ trực tiếp cho hầm làm việc của tướng De Castres. Cứ điểm A1 có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, được coi là “cuống họng, chìa khóa sống” bảo vệ phân khu trung tâm, trực tiếp bảo vệ căn hầm của tướng De Castres và cũng là chiếc “chìa khóa” để ta tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện biên Phủ. Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn biến với 56 ngày đêm thì trận đánh tại đồi A1 diễn biến với 39 ngày đêm.

Chị hướng dẫn viên đã truyền đạt lại những diễn biến khốc liệt của trận chiến 39 ngày đêm tại đồi A1 này đầy xúc động. Chị kể lại những câu chuyện chị đã được nghe từ các bác cựu chiến binh trung đoàn 174 của đại đoàn 316 và trung đoàn 102 của đại đoàn 308 năm xưa. Quân ta đã chiến đấu nhiều ngày giành giật khốc liệt từng tất đất, tứng met chiến hào nhưng vẫn chỉ chiếm được 1/3 đồi A1…Chị kể về những “bức tường đồng đội” mà nếu như thương binh ta ngồi sau bức tường này không thể nào mà trúng đạn được, xác các anh la liệt “ trên mặt đất dưới chiến hào”. Chiến đấu hơn một tháng trời, xác của các chiến sĩ bắt đầu phân hủy, những mùi rất khó chịu của xác nhưng về sau đó là thứ không khí duy nhất các bác có thể ngửi được. Khi chúng ta tổ chức phản kích về phía quân Pháp, các chiến sĩ của chúng ta không thể lựa được đây là đồng đội mình mà tránh ra mà phải tràn lên, những đôi bàn chân đó phải dẫm chính lên xác các đồng đội mình để tiến đánh. Khi quay trở lại vị trí ta chiếm được thì trên người các anh thấm đẫm máu thịt nhưng không phải của kẻ thù mà lại là máu thịt của đồng đội mình, đối với các bác cựu chiến binh đó là kí ức không bao giờ quên. Rồi câu chuyện về chuyện hố bộc phát, những làn sóng điện thanh, sự hi sinh của những anh nuôi, về những sự chuẩn bị không phải chỉ là chiến đấu mà còn là tấm vải niệm… Làm sao có thể kể lại hết trong vài trang giấy này được. Sau những cố gắng không ngừng nghỉ, sự chuẩn bị và quyết thắng, chiến đấu vì tổ quốc, cuối cùng quân ta đã làm chủ hoàn toàn cứ điểm A1 vào 4h sáng ngày 7/5/1954, mở toang cánh cửa thép tiến thẳng vào trung tâm của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Trận thắng A1 có một ý nghĩa rất quan trọng, đã mở ra cho toàn mặt trận nhanh chóng chuyển sang tổng công kích và đã giành toàn thắng chỉ sau đó 13 giờ đồng hồ. Sau ngày chiến thắng, di tích A1 đã được tôn tạo lại, A1 không còn là quả đồi không cỏ cây nào mọcdược nữa thêm vào đó đã có những bóng cây xanh và nền cỏ xanh. Nhưng bác cựu chiến binh đến thăm lại chiến trường xưa có nói nếu như trước kia A1 có nhiều cây như bây giờ thì đánh chiếm cứ điểm này không phải tốn nhiều thời gian đến vậy, không chết nhiều như vậy. Dưới lớp cỏ kia chỉ tầm 5- 10 cm đồng đội các bác vẫn còn năm nhiều lắm. Ngay sau khi chiến tháng hoàn toàn được Điện Biên Phủ, các bác quay lại đây để tìm chôn xác đồng đội. Nhưng chỉ chôn được phần nào các đồng chí, còn lại các bác phải “vùi” vì đó là những mảnh xương, mảnh thịt.

“ Áo bào thay chiếu anh về đất

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

(các bạn hay xem A1 bùn, máu và hoa để hiểu rõ hơn). Chị hướng dẫn cho chúng tôi biết trước khi được trồng lớp cỏ như bây giờ, những ngày mưa nước trên đồi chảy xuống vẫn có những mẩu xương trồi ra. Một lần có một cô, cô là con của người lính đã hi sinh trên đồi A1 này, cô bất chợt nhặt dược mẩu xương. Rồi cô chạy về nói với chị Hướng dẫn viên: “ Không biết đây là xương của ta hay của địch, cũng không biết đây có phải xương của bố chị hay không nhưng làm ơn em hãy giúp chị làm điều gì đó”. Trải qua 39 ngày đêm chiến đấu hơn 2.500 chiến sĩ của chúng ta đã hy sinh trên mảnh đất nơi đây. Mồ hôi, xương máu của các anh đã thấm đẫm từng tấc đất, từng ngọn cỏ trên đồi A1 này.

“Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi

A1 rộng sao đồng đội tôi nằm chật

Mỗi tấc đất là cuộc đời có thật

Cho hôm nay tôi đến nghẹn ngào”.

Đó là chính lời thơ của một bác cựu chiến binh khi bác quay lại chiến trường xưa.

Cách Di tích lịch sử A1 không xa đó chính là bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đây là công trình được xây dựng nhân 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ “ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” của dân tộc. Không gian đầu tiên chúng tôi bắt gặp đó chính là những tảng đá chủ quyền được các chiến sĩ hải quân mang từ quần đảo Trường Sa tặng cho bảo tàng nhân dịp 60 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ. Với nhiều hạng mục quan trọng bằng mô hình, khối tượng và gần 1000 tài liệu, hiện vật, ảnh, … có liên quan đã khái quát một cách sinh động, rõ nét cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta trong đó chủ yếu là 56 ngày đêm “Khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt” của chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Trong cuộc quyết chiến này quân dân ta gặp muôn vàn khó khăn, hậu phương chiến lược của cách xa tuyến 500 km- 700km, địa hình rừng núi nguy hiểm, đường vận chuyển độc đạo, thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, dân cư thưa thớt, kinh tế kém phát triển. Để vận chuyển được quân lương, thực phẩm, đạn, dược, các thiết bị vũ khí tới chiến trường hết sức khó khăn .Trong khi đó quân Pháp có lợi thế về không quân và hỏa lực rất lớn, có Mỹ hậu thuẫn nên chúng cho rằng Điện Biên Phủ là “pháo đài bất khả xâm phạm”, là “cỗ máy nghiền nát mọi cuộc tấn công của Việt Minh. Vì vậy, chúng rất mực tự tin, trận chiến này còn là “ lối thoát danh dự” cho quân đội Pháp trong việc trở lại xâm lược Việt Nam lần này nhưng sự tự tin và danh dự của chúng đã bị quân dân Việt Nam “san phẳng” trong 56 ngày đêm. Các sai lầm nghiêm trọng của Pháp trong trận đánh Điện Biên Phủ liên quan đến chiến thuật của tướng Navarre, việc đánh giá chiến trường, tin tức tình báo và nhất là đánh giá quá thấp khả năng huy động lực lượng của quân Giải Phóng đã dẫn đến thất bại ở cuộc chiến này. Lúc quyết định thiết lập cứ điểm Điện Biên Phủ, Tướng Navarre và bộ tham mưu quân đội Pháp luôn cho rằng quân Giải Phóng sẽ tiến hành cuộc chiến tấn công nhanh chóng, ào ạt để tránh bị động về đường tiếp tế và tránh tối đa cuộc chiến lâu ngày do dễ phơi mình trước hỏa lực không quân của Pháp giống như trận Nà Sản. Tuy nhiên, khi quân Giải Phóng tập trung quân lại sẽ khiến quân Pháp có thể tận dụng hỏa lực tối đa và đây là điều quân Pháp mong muốn. Pháp muốn có trận chiến giành thắng lợi lớn và gây thiệt hại tối đa cho quân Giải Phóng nhằm tìm kiếm lợi thế trong đàm phán. Nhưng sau những trận đánh cứ điểm ban đầu gặp nhiều khó khăn, tướng Võ Nguyên Giáp đã thích ứng chuyển từ chiến thuật “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc thắng chắc” . và cho áp dụng chiến thuật chiến hào vây lấn, hạn chế được tối đa tổn thất cùng tinh thần chịu khó, quyết tâm của quân Giải Phóng. Đây là một quyết định quan trọng, quyết định làm lên thắng lợi của toàn chiến dịch.

Trong trận chiến này, chúng đã đánh giá sai hỏa lực của quân Giải Phòng và tự tin vào những vũ khí hiện đại và tối tân nhất lúc bấy giờ của chúng. Với tình trạng vận chuyển trong rừng không cho phép quân Giải Phóng có thể di chuyển pháo đến trận Điện Biên Phủ các loại súng trên 75 ly cùng với cấp số đạn cho 7 ngày đánh nhau và quân ta cũng không đủ sức mang pháo đến trận đánh. Nhưng ngay sau khi khai thông được đường biên giới với Trung Quốc(năm 1950) chúng ta đã nhận được những viện trợ to lớn từ Trung Quốc trong đó có các thiết bị vũ khí chiến đấu. Quân ta đã tháo dời các bộ phận của pháo để mang lên những vị trí chiến lược. Sau 2 lần chiến đấu với quân Pháp, quân ta cũng đã có kinh nghiệm và trưởng thành. Cứ điểm Điện Biên Phủ vốn được lập ra để nhử cho quân Giải Phóng đánh vào và sẽ bị tiêu diệt bởi ưu thế của pháo binh và phi cơ. Nhưng qua hai trận chiến ngày 13 và 14-3 đã đủ chứng tỏ rằng pháo binh và phi cơ của quân Pháp hoàn toàn mất hết hiệu lực.

Theo hồi ký của tướng Navarre quân Giải Phóng không có khả năng nuôi ăn cho trên 2 sư đoàn và 20.000 dân công cho mặt trận Tây Bắc Bắc Việt. Đây cũng là một bài toán khó của ta, với 60.000 quân tên toàn mặt trận và khoảng 230.000 dân quân vận tải chủ yếu là đường bộ bằng sức người, xe đạp,…khi đến được chiến trường, bản thân họ đã tiêu thụ hết khoảng 60% lượng gạo, kèm theo hư hao dọc đường. Lượng gạo đến được trận đánh thật sự chẳng còn bao nhiêu. Trong suốt cuộc chiến ở Điện Biên Phủ, không quân quân Pháp đã không hề ngăn chận được đường tiếp tế nhưng với sự sáng tạo, những “ binh chủng xe thồ” đã ra đời. Ban đầu 1 chiếc xe chỉ có thể trở trung bình từ 50 -100 kg gạo những sau đó được cải tiến thì 1 chiếc xe có thể trở trên 200 kg lương thực thực phẩm, thậm trí trên 300 kg( chiếc xe thồ kỉ lục chở được 325 kg), cùng với ngựa thồ, thuyền mảng, sự chung tay góp sức góp của của đồng bào vùng Tây Bắc đã đáp ứng được đầy đủ các thứ yếu phẩm, vũ khí đạn dược cho các chiến sĩ. Như vậy, chúng đã sai khi đánh giá thấp khả năng hậu cần của ta. Công tác hậu cần trong chiến dịch Điện Biên Phủ là một minh chứng của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân ta.

Trước trận đánh, Pháp đánh giá quân Giải Phóng chỉ có thể mang đến Điện Biên Phủ khoảng 2 và tối đa là 3 sư đoàn bộ binh với tổng quân số khoảng 20.000-30.000 người. Mà theo thông thường, muốn tấn công quân phòng thủ, lực lượng tấn công phải huy động lực lượng gấp 5 hoặc gấp 7 lực lượng phòng thủ và phải tấn công dài ngày mới mong hạ được cứ điểm và chưa kể phải huy động lực lượng dân quân tiếp tế cho lực lượng tấn công và phải tốn thêm lương thực cho chính đội ngũ tiếp tế. Do đó. Pháp đưa 12.000 lên cứ điểm, thời điểm điều quân nhiều nhất là hơn 16.000 quân. Nhưng khi trận đánh diễn ra, Pháp mới hốt hoảng khi phát hiện quân Giải Phóng có 5 sư đoàn và 60.000 người chưa kể 230.000 người dân quân vận tải.

Chiến thắng vĩ đại của người Việt Nam tại mảnh đất Điện Biên Phủ năm 1954 là một bước ngoặt của lịch sử thế giới đương đại, tốn nhiều giấy mực của báo chí quốc tế, là đòn bẩy ý chí cho các dân độc đang nằm trong nòng vuốt của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ. Đối với Việt Nam, chưa đầy 10 năm sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, chúng ta đã làm nên một chiến thắng vô song "Trên thế giới chưa từng có. Trong lịch sử chưa từng thấy” bằng sức mạnh đoàn kết, nhất trí của toàn dân tộc.

Nếu như đã đến thành phố Điện Biên Phủ để tham quan, tôi khuyên bạn nên qua thăm bảo tàng chiến thắng trước, sau đó sang tham quan di tích lịch sử A1 sẽ hợp lí hơn. Buổi chiều, đoàn chúng tôi thăm hầm chỉ huy của tướng De Castries. Hầm chỉ huy nằm ở trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, thuộc cánh đồng Mường Thanh. Hầm chỉ huy được xây dựng hết sức kiên cố với vòm sắt, ván gỗ, bao cát, hàng rào dây thép gai dày đặc và có đường thông sang đồi A1. De Castries (1902) xuất thân gia đình danh giá ở Pháp, theo binh nghiệp. Năm 1953, Castries được giao nhiệm vụ phòng thủ ở Điện Biên Phủ, với chức vụ chỉ huy trưởng tập đoàn cứ điểm. Khi hoàn thành việc xây dựng, De Castries hợm hĩnh tuyên bố: “Được lắm! Họ từ trên cao bắn xuống chúng tôi ư? Tôi sẽ đội cái mũ calo đỏ của tôi lên cho họ trông rõ tôi hơn". Chiều 17h ngày 7/5/1954, Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh bại quân Pháp và đồng minh tại tập đoàn cứ điểm. Tướng De Castries ra hang, kết thúc Chiến tranh Đông Dương De Castries bị bắt giam trong 4 tháng và sau đó về nước theo hiệp định Gevene.

Kết thúc chuyến thăm đầy ý nghĩa trong ngày, buổi tối chúng tôi được ba Quang dẫn đến một nhà hàng Vân Phong của một gia đình người Thái. Các cô các bác, các anh chị ở đây rất thân thiện, ngoài được thưởng thức những món đặc sản chúng tôi còn được giao lưu với họ. Sáng hôm sau, chúng tôi tạm biệt mảnh đất một thời khó lửa, một thời hào hùng để về với thủ đô, chuyến đi lần này để lại thật nhiều ấn tượng, nhiều cảm xúc. Mong một ngày nào đó tôi sẽ được quay rở lại nơi đây để tham quan những nơi còn chưa được đến như điểm cực Tây của tổ quốc hoặc đến đây với vai trò là một người giới thiệu những nét văn hóa đặc sắc của các đồng bào nơi đây, truyền đạt lại những năm tháng oanh liệt hào hùng tại lòng chảo Điện Biên này.